Sáng kiến kinh nghiệm Khái niệm chung về thực tập sư phạm mầm non

Khái niệm chung về thực tập sư phạm mầm non

Thông tin sản phẩm

  • Khái niệm chung về thực tập sư phạm mầm non

    Chương 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ THỰC TẬP SƯ PHẠM

    I. Khái niệm chung về thực tập sư phạm

    Thực tập sư phạm là hoạt động giáo dục đặc thù của các trường sư phạm mầm non nhằm hình thành, phát triển phẩm chất và năng lực cần thiết của nhà giáo cho giáo sinh theo mục tiêu đào tạo đã đề ra.

    1. Khái niệm:

    Nhà giáo là người làm nhiệm vụ dạy học và giáo dục trong nhà trường hoặc các cơ sở giáo dục khác. Để thực hiện tốt các nhiệm vụ đã quy định trong Luật giáo dục 1998, sinh viên trong các trường sư phạm được đào tạo không chỉ về kiến thức chuyên môn thuộc các lĩnh vực khoa học – công nghệ mà còn cả về nghiệp vụ sư phạm. Lĩnh vực đào tạo nghiệp vụ trong các trường sư phạm có nhiệm vụ hình thành những kiến thức về dạy học, bồi dưỡng lý tưởng đạo đức và rèn luyện kỹ năng nghiệp vụ, nghệ thuật sư phạm cho giáo sinh. Lĩnh vực đào tạo sư phạm học bao gồm các bộ môn giáo dục học, tâm lý học, lý luận dạy học, giáo học pháp bộ môn và thực tập phạm.

    Vấn đề thực tập sư phạm được xem xét dưới nhiều góc độ khác nhau:

    Thực tập sư phạm “là hoạt động thực tiễn của giáo sinh tại các trường phổ thông sau phần học lý thuyết về nghề sư phạm nhằm mục đích củng cố và nâng cao nhận thức và lòng yêu nghề dạy học, áp dụng các kiến thức vào thực tiễn, rèn luyện kỹ năng dạy học, công tác chủ nhiệm. Nội dung thực tập sư phạm đòi hỏi vận dụng tổng hợp các kiến thức, nghiệp vụ được trang bị vào hoạt động cụ thể theo từng loại hình công tác giáo dục và giảng dạy”. Theo quan niệm trên, thực tập sư phạm là hoạt động thực hành của giáo sinh các trường sư phạm và được tiến hành ở các cơ sở thực tập sư phạm.

    Thực tập sư phạm được coi là công đoạn quan trọng trong quá trình đào tạo người giáo viên với thời gian mà giáo sinh được tiếp xúc trực tiếp với thế giới sinh động của hoạt động nghề nghiệp nhằm giúp cho các em có thể củng cố, nâng cao, mở rộng các kiến thức, kỹ năng đã học ở trường sư phạm. Thực tập sư phạm được coi là giai đoạn kiểm tra sự chuẩn bị về mặt lý luận cũng như thực hành của giáo sinh đối với việc độc lập công tác của họ và hình thành những khả năng rộng lớn trong việc sáng tạo giải quyết những nhiệm vụ giáo dục – giáo dưỡng của người giáo viên tương lai. Như vậy, thực tập sư phạm đã thực sự trở thành hoạt động thực hành nhằm vận dụng kiến thức, kỹ năng, hình thành khả năng giải quyết công việc của giáo sinh. Ở góc độ quản lý, thông qua thực tập sư phạm mà nhà trường có thể xác định được mức độ chuẩn bị về lý luận và thực hành của giáo sinh cho công việc tương lai của họ sau này.

    Thực tập sư phạm là khâu hết sức quan trọng trong việc đào tạo năng lực sư phạm cho người giáo viên trong tương lai. “Tất cả sinh viên các trường đại học sư phạm trong quá trình học tập đều phải tham gia thực tập sư phạm từ năm thứ I (từ đầu học kỳ II). Đó là điều kiện cần thiết để hình thành khuynh hướng nghề nghiệp – sư phạm, hình thành nhân cách của người giáo viên”. Theo quan niệm trên thì thực tập sư phạm được tiến hành trong suốt quá trình đào tạo giáo viên ở trường sư phạm cũng như ở các cơ sở thực tập sư phạm.

    Khái niệm chung về thực tập sư phạm mầm non

    Khái niệm chung về thực tập sư phạm mầm non

     

    Thực tập sư phạm đã trở thành một khâu trong chương trình đào tạo người giáo viên tương lai khi xem xét nó như một quá trình dạy học để thực hiện những nhiệm vụ dạy học cơ bản như rèn luyện kỹ năng, kiểm tra và đánh giá kết quả tổng hợp của cả khoá học của giáo sinh sư phạm. Với quan niệm trên, thực tập sư phạm được thực hiện theo những nguyên tắc và phương pháp dạy học.

    Thực tập sư phạm được coi là một bước trong quy trình rèn luyện kỹ năng sư phạm để giáo sinh tiến hành rèn luyện kỹ năng sư phạm bằng việc thực hiện một cách tương đối độc lập nhiệm vụ dạy học và giáo dục. Như vậy, việc rèn luyện kỹ năng sư phạm được tiến hành trong suốt quá trình đào tạo giáo viên và thực tập sư phạm là giai đoạn luyện tập nâng cao ở trên đối tượng thực.

    Thực tập sư phạm lại được coi là hoạt động thực hành của giáo sinh trong mối quan hệ tương tác với các yếu tố khác của quá trình sư phạm. Khi giáo sinh thực hiện nhiệm vụ thực tập sư phạm có nghĩa là họ đang tham gia vào các mối quan hệ mới như môi trường mới, thầy mới, trò mới, công việc mới và vị thế mới. Trong các mối quan hệ mới đó, để thích nghi, họ phải huy động tất cả những gì đã được chuẩn bị và vận dụng một cách linh hoạt, sáng tạo tri thức sư phạm vào tình huống không quen thuộc. Quan niệm trên nhấn mạnh dạy học và giáo dục là hoạt động đa dạng vừa có tính khoa học, vừa có tính nghệ thuật, dạy học không phải bắt hoạt động học thích ứng với hoạt động dạy mà dạy phải thích ứng với hoạt động học. Thực tập sư phạm là quá trình thích ứng của giáo sinh với các nhiệm vụ của người giáo viên. Sự thích ứng này chỉ có được khi giáo sinh được chuẩn bị tốt, có điều kiện để rèn luyện kỹ năng sư phạm.

    Từ những phân tích trên có thể hiểu thực tập sư phạm kỹ thuật là hoạt động thực hành về nghiệp vụ sư phạm của giáo sinh sư phạm kỹ thuật nhằm hình thành và phát triển những kỹ năng cơ bản để tổ chức tốt hoạt động dạy học cũng như giáo dục, hình thành và phát triển những phẩm chất cơ bản của người giáo viên dạy nghề.

    1. Đặc điểm TTSP của giáo sinh SPKT

    Thực tập sư phạm là nội dung thuộc chương trình đào tạo sư phạm kỹ thuật cho giáo viên dạy nghề ở các trường Cao đẳng Sư phạm Kỹ thuật. Việc tiến hành nhiệm vụ TTSP của giáo sinh cũng có những nét đặc trưng nhất định của nó.

    Mục tiêu TTSP của giáo sinh SPKT là hình thành, rèn luyện và phát triển năng lực dạy học kỹ thuật – nghề nghiệp, năng lực tổ chức các hoạt động giáo dục ở các trường dạy nghề.

    Đối tượng thực tập sư phạm là các lớp dạy nghề có trình độ bán lành nghề cũng như lành nghề. Học sinh học nghề ngắn hạn cũng như dài hạn có sự đa dạng về trình độ nhận thức, đặc điểm tâm – sinh lý nhưng đều có mục tiêu chung là học nghề để sau này tham gia vào cuộc sống lao động nghề nghiệp. Vì vậy, học sinh rất tích cực và linh hoạt trong quá trình học lý thuyết cũng như thực hành nghề. Tuy nhiên, học sinh học nghề đến từ nhiều vùng khác nhau nên có những khác biệt trong phong cách học tập cũng như cách ứng xử. Học sinh về cơ bản là tự lập, sống xa gia đình. Do lưu lượng học sinh học nghề phát triển nhanh trong những năm vừa qua nên ký túc xá không đủ đáp ứng nhu cầu ở làm cho công tác quản lý, giáo dục học sinh gặp nhiều khó khăn khi tiến hành hoạt động giáo dục của giáo sinh.

    Người hướng dẫn thực tập sư phạm ở các trường dạy nghề hầu hết học từ các trường kỹ thuật được bồi dưỡng nghiệp vụ sư phạm ở Bậc I, II. Theo số liệu thống kê của Tổng cục dạy nghề thì số GVDN chính qui là 6300, trong đó, trình độ trên ĐH 2%, trình độ ĐH, CĐ 69%, trình độ THKT và trung học SPKT 15%, công nhân kỹ thuật 14%. GV thực hành có tay nghề bậc 3 là 35,6%; bậc 4: 23%; bậc 5: 24,4%; bậc 6 và 7: 17%. Chính vì vậy nên một số người có quan niệm về TTSP chưa đúng, phương pháp sư phạm của một số giáo viên thực hành còn mang tính chất truyền nghề nên sự định hướng cho giáo sinh cũng có những hạn chế nhất định.

    1. Vai trò của TTSP: Khái niệm chung về thực tập sư phạm mầm non

    Giáo viên dạy nghề là người làm công tác dạy học và giáo dục trong các cơ sở dạy nghề. Giáo viên dạy nghề phải có phẩm chất, đạo đức tư tưởng tốt, đạt trình độ chuẩn về chuyên môn kỹ thuật và nghiệp vụ sư phạm.

    Ở GVDN có những nét khác biệt so với giáo viên của các bộ phận khác trong hệ thống giáo dục quốc dân.

    GVDN không chỉ có thiên chức dạy chữ, dạy người mà còn dạy nghề. Đặc điểm trên đòi hỏi GVDN không chỉ có kiến thức vững về chuyên môn, kỹ năng sư phạm, kỹ năng giao tiếp sư phạm mà còn phải có kỹ năng hành nghề thành thạo. Giáo viên dạy nghề đảm đương nhiệm vụ dạy lý thuyết và thực hành, dạy học ở nhiều môi trường khác nhau như ở trong lớp, xưởng thực hành, phòng thí nghiệm, cơ sở sản xuất.v.v.. Chúng được bao gồm hàng loạt các công việc có liên quan chặt chẽ với nhau.

    Việc đào tạo nghề có nhiều cấp độ khác nhau, nhiều nghề khác nhau, các ngành nghề luôn biến động theo sự thay đổi của khoa học, kỹ thuật công nghệ trong sản xuất và yêu cầu thị trường lao động.Vì vậy, GVDN cần có sự thích ứng nhanh với sự phát triển của khoa học và công nghệ.

    Đội ngũ GVDN được hình thành từ nhiều nguồn khác nhau, nhiều trình độ khác nhau. Có 50% GVDN là người tốt nghiệp các trường ĐH, CĐ, THCN; 30% tốt nghiệp các trường SPKT; số còn lại là thợ bậc cao và kỹ thuật viên trung học đã qua sản xuất.

    Năng lực nghề nghiệp của GVDN là điều kiện cần thiết để hoạt động nghề có hiệu quả. Trong cấu trúc năng lực nghề nghiệp của giáo viên dạy nghề có các thành tố như tri thức và kỹ năng chuyên môn khoa học- công nghệ, năng lực sư phạm kỹ thuật. Năng lực nghề nghiệp được hình thành thông qua đào tạo, bồi dưỡng và hoạt động thực tiễn nghề nghiệp, trong đó, thông qua đào tạo là quan trọng.

    3.1. TTSP là môi trường thực hành sư phạm: Khái niệm chung về thực tập sư phạm mầm non

    Bất cứ một hoạt động nào cũng diễn ra trong một môi trường nhất định, hoạt động sư phạm không có ngoại lệ. Môi trường có hai mối quan hệ ràng buộc là ảnh hưởng và thích nghi, vì thế nhiệm vụ của nhà sư phạm là phải tiến hành khai thác những ảnh hưởng tốt, hạn chế những ảnh hưởng xấu cũng như tìm kiếm phương thức thích nghi ở mức cao nhất để hoạt động thực hành sư phạm của giáo sinh đạt kết quả.

    Khi giáo sinh tiến hành giải quyết các nhiệm vụ thực tập sư phạm có nghĩa là họ đang tham gia vào các mối quan hệ mới với môi trường mới, thầy mới, trò mới, công việc mới và vị thế mới mà những cái này họ đã chưa được làm quen hoặc làm quen dưới dạng giả định trong khi học ở trường sư phạm. Trong các mối quan hệ mới đó để thích nghi, họ phải huy động tất cả những gì đã được trường sư phạm chuẩn bị trước và dịch chuyển độc lập, linh hoạt, sáng tạo vào tình huống không quen thuộc, qua đó, có được những hiểu biết mới – có thể là những kiến thức khoa học, có thể chưa đạt, thậm chí không đạt đến tri thức khoa học. Điều đó không quan trọng, bởi giá trị của những hiểu biết mà giáo sinh có được khi thực hành sư phạm độc lập trong môi trường mới là sự nuôi dưỡng lòng khát khao tìm kiếm, khám phá, niềm say mê với hoạt động thực tiễn sư phạm và ý thức, thói quen làm việc độc lập, sáng tạo ở họ. Với ý nghĩa trên, chúng ta cần chuẩn bị được môi trường thực tập sư phạm hợp lý về các điều kiện, phương tiện và thái độ.

    Chuẩn bị về thái độ có nghĩa là giúp giáo sinh nhận thức rõ vị trí, vai trò và ý nghĩa của thực tập sư phạm trong quy trình đào tạo người giáo viên cũng như việc chuẩn bị hành trang bước vào nghề dạy học. Việc làm này được tiến hành khi giới thiệu chương trình đào tạo của trường sư phạm, qua đó, làm rõ vị trí của các môn học, các hoạt động giáo dục nhất là những môn học và các hoạt động mang tính nghiệp vụ như học tập các môn Tâm lý học, Giáo dục học, phương pháp dạy học bộ môn, kiến tập và thực tập sư phạm .v.v…

    Để thể hiện hứng thú và niềm say mê với hoạt động thực tập sư phạm không chỉ cần giáo sinh có nhận thức rõ về ý nghĩa của hoạt động thực tập sư phạm với dự án học đường, dự án nghề nghiệp mà họ còn phải có những điều kiện nhất định để thực hiện có kết quả hoạt động đó. Những điều kiện đó là tâm – sinh lý cá nhân, tâm lý – xã hội và nền kinh tế – văn hóa – xã hội.

    Chuẩn bị điều kiện cho giáo sinh tham gia thực tập sư phạm là tiến hành vũ trang về hệ thống kiến thức khoa học chuyên ngành và những kiến thức khoa học liên quan. Nội dung của chúng phải được giáo sinh lĩnh hội một cách tích cực, độc lập, sáng tạo, chuyển thành vốn sống của mỗi giáo sinh để họ vận dụng vào việc thiết kế cũng như thi công bài giảng trong đợt thực tập sư phạm. Chúng có thể gồm có hệ thống kỹ năng dạy học và giáo dục như tri thức và thao tác để giáo sinh tổ chức hoạt động dạy học và giáo dục mang tính khoa học, nghệ thuật trong khi thực tập sư phạm. Chọn địa điểm thực tập, bàn bạc thống nhất về nội dung, phương pháp và những yêu cầu trong đánh giá từng hoạt động thực tập của giáo sinh sư phạm với nhà trường nơi mà giáo sinh đến thực tập ở trường địa phương cũng góp phần không nhỏ vào thành công của đợt thực tập sư phạm.

    Chính những thành công nhỏ mà mỗi giáo sinh đạt được trong từng công việc của đợt thực tập sư phạm không chỉ có ý nghĩa đào tạo đối với mỗi người, mà còn nuôi dưỡng, phát triển tình yêu đối với nghề dạy học nói chung và công tác thực tập sư phạm nói riêng.

    Việc tổ chức cho giáo viên mầm non sinh tham gia thực tập “tại địa phương” một cách thuận lợi, tạo điều kiện cho họ biết cách phát huy hết tính tích cực, độc lập, sáng tạo trong công tác thực hành sẽ giữ vị trí quan trọng, ảnh hưởng trực tiếp đến kết quả thực tập sư phạm của sinh viên.

    Việc tiến hành tổng kết, đánh giá được kết quả thực tập sư phạm một cách khách quan, công bằng và công khai bằng những thang đánh giá rõ ràng, phù hợp với tính chất từng hoạt động, với yêu cầu thực hành bộ môn, thực hành nghề sẽ tạo ra niềm tin, sự phấn khởi ở giáo sinh về công tác thực hành sư phạm.

    Tránh những biểu hiện như sự chuẩn bị chưa chu đáo, tổ chức thực hành không mang tính khoa học, thiếu sự phối hợp ăn ý giữa trường sư phạm với các “trường địa phương”, tổng kết đánh giá không tương xứng sẽ ảnh hưởng không nhỏ đến kết quả rèn luyện kỹ năng sư phạm nói riêng, kết quả đào tạo nói chung và thái độ đối với nghề của giáo sinh sư phạm.

    3.2. TTSP là phương pháp rèn luyện năng lực sư phạm: Khái niệm chung về thực tập sư phạm mầm non

    Thực tập sư phạm được thực hiện nhằm hình thành và phát triển năng lực sư phạm kỹ thuật cho người giáo viên dạy nghề. “Trường sư phạm là một trường đào tạo nghề” thể hiện rõ tính chuyên nghiệp trong toàn bộ hoạt động đào tạo thông qua việc hình thành và phát triển các kỹ năng nghề nghiệp gắn bó với thực tiễn sinh động của các trường dạy nghề. Năng lực sư phạm có cấu trúc phù hợp với hoạt động sư phạm, được hình thành và phát triển trong quá trình rèn luyện của người giáo viên tương lai, tạo nên sự trưởng thành trong nghề nghiệp. Quá trình đào tạo phải hình thành được các kỹ năng nghề nghiệp cơ bản, cần thiết và khả dụng. Những năng lực sư phạm được tiếp tục hình thành và phát triển trong quá trình thực tập sư phạm.

    Năng lực dạy các bài học lý thuyết và thực hành nghề. Năng lực này được biểu hiện qua các kỹ năng sư phạm.

    • Kỹ năng phân tích chương trình đào tạo. Kỹ năng phân tích chương trình đào tạo ngành, nghề mà mình sẽ tiến hành dạy học; chương trình môn học, từ phân tích chương trình các môn học mà có kỹ năng xác định nội dung dạy học cho một bài học.
    • Kỹ năng nghiên cứu tài liệu giảng dạy các môn học. Giáo sinh biết nghiên cứu giáo trình, sách giáo khoa, tài liệu tham khảo xác định các nội dung dạy học cho mỗi chương, mỗi phần, mục… và được cụ thể hoá ở mỗi bài học, tiết học.

    3) Kỹ năng soạn bài và chuẩn bị cho lên lớp. Giáo sinh thực hiện quy trình soạn giáo án lý thuyết cũng như thực hành nghề. Với sự hướng dẫn nhất định của giáo viên, giáo sinh soạn giáo án theo mẫu viết đề cương bài giảng và chuẩn bị phương tiện, thiết bị cùng các điều kiện khác cho quá trình lên lớp. Trong quá trình thực tập sư phạm, giáo sinh sẽ nhận thấy rằng bài soạn không phải là giáo trình, sách giáo khoa mà bài soạn phải xác định được từng hoạt động, thao tác mà người dạy cũng như học cần thực hiện để khám phá, lĩnh hội khái niệm. Bài soạn với những nội dung khoa học về chuyên môn đã được xử lý về mặt sư phạm để dựa theo đó, giáo viên tiến hành tổ chức quá trình dạy học.

    4) Kỹ năng viết, vẽ trên bảng. Đây là kỹ năng mà giáo sinh dành nhiều thời gian luyện tập để giáo án bảng được trình bày một cách khoa học và thể hiện rõ nội dung cơ bản của bài dạy. Những hạn chế của giáo sinh sư phạm kỹ thuật là viết chữ xấu trong đó có việc viết bảng rất khó đọc nhất là với các công thức, ký hiệu. Trong quá trình thực tập sư phạm, kỹ năng này được luyện tập và tiến triển có tốt hơn.

    5) Kỹ năng thể hiện thao tác đi – đứng, ra vào lớp, đi lại trong lớp học. Giáo viên có kỹ năng thể hiện thao tác đi – đứng ra vào lớp, đi lại trong lớp học cho phù hợp, tránh những động tác thừa trong giờ dạy. Trong dạy học thực hành, giáo sinh có điều kiện vận dụng những hiểu biết để biết tổ chức dạy một bài thực hành cơ bản cũng như nâng cao, đảm bảo an toàn cho học sinh khi thao tác trên các thiết bị.

    6) Kỹ năng chuẩn bị, sử dụng được các phương tiện, thiết bị dạy học. Kỹ năng sử dụng được các phương tiện dạy học phổ biến như dùng các mô hình, bản vẽ, phim và máy chiếu Overhead, máy chiếu đa năng, máy tính và các thiết bị kết nối máy tính. Giáo sinh phải biết cách rèn luyện những cách thức khác nhau để sử dụng được phương tiện dạy học hiện đại sao cho trở nên thiết thực, đảm bảo tính sáng tạo. Đối với các bài dạy thực hành, giáo sinh có cơ hội thử nghiệm kỹ năng nghề với vị thế là người dạy nghề cho người khác. Qua theo dõi thực tập sư phạm, chúng tôi nhận thấy một số giáo sinh lúc ban đầu dạy thực hành nghề rất lúng túng trong thao tác mẫu cũng như quan sát, uốn nắn học sinh thao tác nhưng cùng với thời gian luyện tập, kỹ năng của họ đã vững vàng hơn.

    7) Kỹ năng sử dụng ngôn ngữ nói và viết. Dù phương tiện thiết bị dạy học có hiện đại và hợp lý đến đâu thì giáo viên vẫn phải sử dụng ngôn ngữ trong việc tổ chức, thiết kế và thi công bài học. Trong thực tập sư phạm, giáo sinh rèn luyện để biểu đạt rõ ràng và mạch lạc ý nghĩ và tình cảm của mình bằng ngôn ngữ chính xác, trong sáng, giàu hình ảnh và dễ hiểu, biết trình bày một nội dung sâu sắc bằng những hình thức giản dị, rõ ràng.

    8) Kỹ năng dự giờ, rút kinh nghiệm. Biết nhận xét đánh giá bài dạy để tự hoàn thiện bản thân đồng thời trao đổi, học tập kinh nghiệm với đồng nghiệp. Qua dự giờ, giáo sinh cũng rèn luyện khả năng quan sát học sinh, theo dõi mọi diễn biến trong nhận thức và tình cảm.

    9) Việc phối hợp kỹ năng dạy học để thể hiện trọn vẹn nội dung bài dạy. Để rèn luyện kỹ năng thể hiện trọn vẹn các bài dạy được giao, giáo sinh phải biết phối hợp được các kỹ năng viết, nói, điệu bộ, khả năng bao quát học sinh khi giảng bài, làm chủ được mọi tình huống phát sinh trong quá trình lên lớp, vận dụng được các phương pháp dạy học. Giáo sinh tổ chức được từng bước lên lớp, tiến tới thành thục và chủ động trong quá trình thực hiện các bước lên lớp.

    10) Kỹ năng kiểm tra, đánh giá quá trình và kết quả bài học. Qua soạn các bài kiểm tra, tổ chức và đánh giá kết quả kiểm tra mà giáo sinh sẽ rèn luyện được kỹ năng kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của học sinh. Cũng thông qua công việc này, giáo sinh biết nhìn nhận lại chính bản thân mình để có cố gắng nhiều hơn.

    Những năng lực giáo dục được hình thành và phát triển trong quá trình TTSP. Thực tập sư phạm không chỉ là điều kiện rèn luyện các kỹ năng dạy học mà còn là môi trường thuận lợi để giáo sinh vận dụng những hiểu biết về tâm lý học, giáo dục học vào tổ chức hoạt động giáo dục. Qua đó mà giáo sinh sẽ rèn luyện được các kỹ năng làm công tác chủ nhiệm lớp và tổ chức các hoạt động giáo dục. Trong quá trình thực tập sư phạm, giáo sinh được trực tiếp làm công tác chủ nhiệm cũng như đứng ra tổ chức, chỉ đạo các hoạt động giáo dục khác. Vì vậy, họ sẽ có cơ hội và điều kiện để rèn luyện các kỹ năng sư phạm cần thiết như mô tả dưới đây.

    • Kỹ năng hiểu học sinh trong quá trình giáo dục như hiểu được đặc điểm nhận thức, tình cảm cũng như các đặc điểm tâm lý khác của học sinh.
    • Kỹ năng xây dựng kế hoạch cho các hoạt động sư phạm. Biết tổ chức phối hợp các lực lượng giáo dục, đưa ra kế hoạch để đảm bảo sự thống nhất của các tác động tới học sinh.
    • Kỹ năng hình dung được hiệu quả của các tác động giáo dục. Kỹ năng hình dung được hiệu quả của các tác động giáo dục để tổ chức và biến tập thể học sinh vững mạnh, xây dựng tập thể học sinh thành môi trường và phương tiện quan trọng để giáo dục học sinh.
    • Các kỹ năng làm công tác chủ nhiệm. Biết cách phối hợp hoạt động với giáo viên bộ môn để tiến hành các hoạt động giảng dạy. Biết cách theo dõi thường xuyên quá trình học tập của tập thể và của từng cá nhân để uốn nắn các sai lệch của các em trong quá trình học tập. Bằng thực tiễn công tác chủ nhiệm cũng như tổ chức các hoạt động, giáo sinh sẽ chọn được cách vận dụng lý luận giáo dục như nội dung, các hình thức, phương pháp và nguyên tắc giáo dục để không những hoàn thành công việc được giao mà còn củng cố, bổ sung những tri thức đã lĩnh hội ở giảng đường trường sư phạm.
    • Kỹ năng tổ chức các hoạt động giáo dục toàn diện. Kỹ năng tổ chức các hoạt động phong phú, đa dạng cho tập thể học sinh bằng các cuộc thi đua học tập và tu dưỡng, bằng các buổi sinh hoạt văn hoá, văn nghệ, thể dục, thể thao, tham quan du lịch để đưa học sinh vào guồng máy tích cực.

    Trong quá trình giải quyết các nhiệm vụ thực tập sư phạm, chúng ta sẽ làm phát triển được năng lực quản lý quá trình đào tạo nghề nghiệp cho giáo sinh như biết lấy thông tin, kế hoạch hoá, tổ chức, lãnh đạo – chỉ đạo thực hiện và kiểm tra đánh giá.

    • Năng lực lập kế hoạch. Biết lập các kế hoạch cho hoạt động dạy học cũng như giáo dục. Biết xây dựng được lịch trình dạy học cũng như các loại kế hoạch hoạt động ngoài giờ lên lớp và kế hoạch chủ nhiệm lớp.
    • Năng lực tổ chức thực hiện nhiệm vụ giáo dục – đào tạo như biết phân phối và tổ chức các nguồn lực tiền, của, con người để thực hiện các hoạt động sư phạm.
    • Năng lực chỉ đạo, điều hành. Giáo sinh tập làm quen với việc điều hành công việc trong nhóm thực tập, trong hoạt động của tập thể học sinh.
    • Năng lực kiểm tra, đánh giá quá trình thực hiện.

    Tải tài liệu về