Phần Mềm Mầm Non Hướng dẫn sử dung Nutrikids

Hướng dẫn sử dung Nutrikids

Thông tin sản phẩm

  • Hướng dẫn sử dung Nutrikids -1.5.1 sử dung phần mềm dinh dưỡng mầm non

    10 cách đưa Canxi vào bữa ăn trẻ em
    Một số trẻ chỉ có thể uống nước ngọt hoặc nước trái cây ép, dứt khoát từ chối sữa dù đây là nguồn Canxi rất tốt cho sức khoẻ; đặc biệt là chiều cao của các cháu. Để sữa và các sản phẩm của sữa được trẻ chấp nhận thường xuyên hơn, có nhiều bí quyết để hấp dẫn các cháu

    Sử dung phần mềm Nutrikids 1.5.1

    hướng dẫn sử dung phần mềm dinh dưỡng mầm non Nutrikids 1.5.1

    Phần mềm mầm non nutrikids

    huong-dan-su-dung-phan-memmam-non

    – Bữa sáng: Cho trẻ ăn loại ngũ cốc điểm tâm giòn luôn có sữa tươi kèm theo. Nếu trẻ không ‘chịu’ món sữa ‘ngọt’ này, có thể thay thế bằng bún riêu cua mềm dễ nuốt có tàu hũ hoặc bánh đúc đậu phụ chiên chấm tương vốn rất giàu Canxi.
    – Đăng ký cho con vào danh sách uống sữa ở trường lớp.
    – Trời nóng, khuyến khích trẻ ăn kem hay uống loại đồ uống từ sữa ướp lạnh, có thêm cacao hay trái cây như dâu, cam mà trẻ thích hơn sữa đơn thuần rất nhiều.
    – Trời mưa lạnh, cho trẻ uống sữa cacao nóng với vài chiếc bánh quy giòn lạt hay mặn có tăng cường Canxi.
    – Tận dụng máy xay sinh tố sáng chế ra những đồ uống hấp dẫn có sữa, kem (làm từ sữa) hay sữa chua đông thành kem với hương vị vani, chuối, dứa, sầu riêng, mãng cầu, cacao…
    – Cho trẻ ăn bánh có nhân trộn thêm sữa.
    – Thêm sữa bột gầy vào xốt những món ăn mặn như la-gu, cà ri thịt, đậu, khoai…
    – Cho trẻ ăn pho-mát và sữa chua vào những bữa phụ.
    – Giải khát: Cho uống nước cam, quýt.
    – Cho trẻ ăn nhiều rau xanh như rau muống, bó xôi, bông cải xanh giàu canxi hơn các rau khác.

    huong-dan-su-dung-phan-memmam-non
    Quan trọng hơn cả là giải thích cho con bạn rằng nếu cháu muốn cao, khoẻ, đẹp thì cần uống sữa mỗi ngày hoặc ăn sữa chua, phomát, kem làm từ sữa…
    Mỗi bữa ăn, thay vì uống nước, các cháu nên uống 1/4 lít sữa (1 ly lớn), người lớn cũng uống theo 1 ly. Nếu sợ các cháu béo vì sữa, có thể dùng sữa ‘gầy’; trẻ đang tuổi học sinh nên uống sữa có 2% chất béo, các cháu lẫm chẫm biết đi thì uống sữa nguyên kem.

    huong-dan-su-dung-phan-memmam-non

    1. Tập cho bé ăn nhiều loại thức ăn khác nhau từ giai đoạn ăn dặm (lúc 5-7 tháng tuổi). Lúc này, vị giác chưa phát triển nên trẻ dễ dàng tiếp nhận các loại thức ăn có mùi vị khác nhau, tạo thành thói quen ăn uống đa dạng khi lớn.

    2. Không bao giờ cho thuốc vào thức ăn như sữa, nước trái cây, chuối… làm trẻ sợ và luôn cảnh giác với thức ăn.

    3. Không cần thiết canh quá kỹ từng bữa ăn, từng muỗng bột, vài chục ml sữa… Có lúc trẻ ăn ít một chút rồi sau đó sẽ ăn bù.

    4. Làm cho bé thích thú với thức ăn bằng câu chuyện ngộ nghĩnh về thực phẩm, màu sắc xanh đỏ của rau, cà rốt… Thức ăn có mùi vị hấp dẫn và được thay đổi sẽ giúp bé ham ăn hơn.

    5. Bạn đừng quá cứng nhắc đặt bé vào ghế ăn, khăn yếm quá chỉnh tề. Hãy cho bé ngồi thoải mái nơi ưa thích. Để bé được tự xúc cùng mẹ dù còn vụng về, đổ tháo. Nhiều khi bé thích bốc, nhón thức ăn… vì như vậy thú vị hơn ngồi há miệng để mẹ đút. Chén đĩa, ly tách, muỗng… có hình thù ngộ nghĩnh sẽ làm cho bữa ăn của bé thật sự trở thành một cuộc vui. Bạn hãy nhớ, ở tuổi này bé không chỉ ăn mà còn bận rộn khám phá cả thế giới.

    6. Lớn lên một chút, bé thích được hỏi mình muốn ăn gì. Bé có thể tham gia đi lựa mua thức ăn cùng mẹ và “phụ” nhặt rau, rửa cà… Chắc chắn các món có sự tham gia của bé sẽ làm bé cảm thấy ngon hơn.

    7. Đừng dùng thức ăn vào các mục đích khác như trừng phạt hay khen thưởng, lâu ngày sẽ dẫn đến các rối loạn hành vi ăn uống. Trẻ dễ có khuynh hướng dùng việc ăn uống để phản đối hay gây sức ép lại cha mẹ khi chúng gặp khó khăn.

    8. Không cho trẻ ăn quà vặt trước bữa ăn chính trong vòng 1,5 đến 2 giờ, làm bé “ngang dạ” khi vào bữa ăn.

    9. Có những giai đoạn bé ham thích và ăn liên tục một loại thức ăn nào đó như trứng hay cả nải chuối mỗi ngày. Hãy để bé ăn thỏa thích, bé sẽ trở lại ăn uống bình thường sau vài ngày hoặc vài tuần.

    10. Có những giai đoạn biếng ăn sinh lý, thường trùng với lúc trẻ học thêm các kỹ năng mới.Đừng ép uổng quá đáng làm bé biếng ăn thực sự. Các thời điểm biếng ăn sinh lý thường gặp lúc trẻ 7-9 tháng; 2-3 tuổi; 5-6 tuổi.

    huong-dan-su-dung-phan-memmam-non

    Đầu tiên là không nên “lên lớp” cho trẻ. Một số cha mẹ trong bữa ăn thường giáo huấn con mình, gây cho trẻ tâm lý khó chịu, bực tức, dẫn đến tình trạng tim đập nhanh, huyết áp tăng, khả năng tiêu hóa bị ảnh hưởng, khẩu vị giảm sút.

    Nếu tình trạng trên lặp lại thường xuyên, trẻ sẽ không còn cảm giác thèm ăn trước bữa ăn và có nhiều hậu quả nghiêm trọng về tâm sinh lý khác. Vì vậy, trong bất kỳ là bữa ăn nào mà trẻ tham dự, cần tạo một không khí vui vẻ, thích thú để nâng cao công năng tiêu hóa, có lợi cho sức khỏe thể chất và tinh thần trẻ.

    2. Cho trẻ ăn những thực phẩm quá mặn: Những món này sẽ cung cấp quá nhiều natri trong khi thận của các trẻ phát triển chưa hoàn thiện, năng lực bài tiết natri còn kém. Như vậy, sự bài tiết sẽ bị ảnh hưởng, dấn đễn tổn thương thận, suy thận hoặc viêm cầu thận. Nồng độ natri trong máu tăng cao có thể gây ảnh hưởng đến hệ thống tuần hoàn máu – một trong những nguyên nhân gây bệnh huyết áp khi về già. Ngoài ra, việc ăn mặn còn khiến trẻ bị một số bệnh như suy tim, cơ bắp suy yếu.

    3. Sử dụng nhiều đồ đông lạnh trong thức ăn của trẻ: Tỳ vị của trẻ chưa hoàn thiện nên việc thức ăn lạnh vào dạ dày quá nhiều sẽ làm cho niêm mô huyết quản dạ dày bị co hẹp lại, dịch vị giảm. Đây là nguyên nhân giảm khả năng tiêu hóa và hấp thụ thức ăn trong cơ thể. Ngoài ra, thức ăn lạnh cũng khiến năng lực tiêu hóa của dạ dày giảm, hạn chế khả năng tiêu diệt vi khuẩn của dịch vị.
    Sự kích thích của thức ăn lạnh có thể làm cho dạ dày co giật, gây đau bụng tiêu chảy, khẩu vị kém. Tình trạng này nếu kéo dài có thể gây ra những bệnh mãn tính như viêm đại tràng mãn, thường xuyên đau bụng đầy hơi…

    4. Cho trẻ ăn những thực phẩm có dùng chất màu tổng hợp: Y học hiện đại cho rằng, trẻ nhỏ nếu sử dụng kéo dài một lượng nhỏ thuốc nhuộm và chất màu thực phẩm sẽ có thể xuất hiện những biến đổi bất thường. Màu thực phẩm là những hợp chất hữu cơ tổng hợp hoặc bán tổng hợp, đã qua những quá trình tinh chế và thử nghiệm nghiêm ngặt; trong quá trình sử dụng cũng có những giới hạn nồng độ an toàn cho phép. Tuy nhiên, nếu thường xuyên ăn thực phẩm nhuộm màu, trẻ sẽ mất khả năng tự giải độc của cơ thể, bị rối loạn những chuyển hóa bình thường, xuất hiện đầy bụng, rối loạn tiêu hóa. Các sắc tố có thể tích tụ, gây ngộ độc mãn tính; nếu dính vào thành dạ dày, nó có thể gây biến đổi bệnh lý.
    Nếu vào các cơ quan của hệ thống bài tiết, chất màu có thể gây sỏi trong niệu đạo. Vịêc dùng quá nhiều thực phẩm màu sẽ làm rối loạn tác dụng truyền thông tin của hệ thống thần kinh, khiến cho thần kinh xung động gấp bội, hậu quả là trẻ trở nên quá hiếu động hoặc mắc bệnh đa động.

    5. Cho trẻ em dùng thức uống của người lớn: Các bộ phận trong cơ thể trẻ còn non yếu, năng lực ứng phó với sự kích thích của axit, kiềm, hưng phấn… còn tương đối thấp. Vì vậy, không nên để chúng dùng đồ uống của người lớn như cà phê, coca… Chất cafein có tác dụng gây hưng phấn tương đối mạnh đối với hệ thống thần kinh trung ương của trẻ, ảnh hưởng đến sự phát triển trí não. Nước chè tuy có nhiều vitamin, nguyên tố vi lượng… nhưng cũng chứa cafein, làm cho trẻ hưng phấn, tim đập nhanh, đi tiểu nhiều, ngủ không yên giấc.
    Các chất trong chè kết hợp với protein trong thức ăn sẽ ảnh hưởng đến tiêu hóa và sự hấp thụ sắt, gây thiếu máu. Nước có ga thường chứa xút, có thể trung hòa axit dạ dày, cản trở tiêu hóa, gây nhiễm trùng đường ruột. Chất muối phophoric trong đồ uống này ảnh hưởng trực tiếp đến sự hấp thụ sắt của trẻ, gây thiếu máu. Còn các loại rượu, bia có thể kích thích niêm mạc dạ dày của trẻ, gây tổn hại tế bào gan, làm hại hệ thống thần kinh của trẻ, dẫn đến mất cân bằng sinh lý. Rượu bia cũng gây nhiều tác dụng phụ khác.

    6. Không nên ăn quá thừa dinh dưỡng: Trong thời kỳ phát triển để trưởng thành, sự hấp thu dinh dưỡng cao cấp vô độ sẽ gây quá thừa dinh dưỡng, làm cho tế bào miễn dịch phát triển quá sớm. Hậu quả là đến tuổi trung niên, sức miễn dịch của tế bào nhanh chóng suy thoái. Ở những trẻ quá thừa dinh dưỡng, khi đã trưởng thành, công năng của các bộ phận bất kỳ đều giảm mạnh.

    Nạp năng lượng cho não

    13 vitamin, 15 khoáng chất và vi lượng tố, 8 axít amin và từ 2 đến 4 axít béo tùy theo lứa tuổi – các chất không thể thiếu cho hoạt động của não mà giáo sư Jean-Marie Bourre đưa ra sau quá trình nghiên cứu của mình. Não tiêu thụ rất nhiều năng lượng. Dưới đây là một số chất quan trọng giúp não hoạt động tốt.

    Não cũng thích ngọt ngào
    Nhiên liệu chính để não hoạt động là đường. Đường chậm thích hợp hơn đường nhanh vì chúng cung cấp đều đặn lượng glucid cho não để đảm bảo hiệu năng làm việc cao của não. Nhóm thực phẩm cung cấp đường chậm là gạo, ngô, bột ngũ cốc, mì sợi, mì gói, củ sắn, các loại khoai, đậu, rau dền, chuối tiêu, nho… giúp mang glucid vào trong cơ thể và cơ thể sẽ biến đường thành năng lượng. Vì thế trước một kỳ thi hay kiểm tra trí tuệ, người ôn thi nên ăn nhiều ngũ cốc hoặc trái cây khô. Cũng không nên quên cung cấp protein, chất cần thiết để chế tạo các hormon và lipid, chất tạo lập chính màng tế bào.

    Tăng tốc bằng vitamin nhóm B
    Nhóm vitamin B là tác nhân giúp gia tăng khả năng làm việc của não. Vitamin B9 giúp làm giảm mệt mỏi trí não khi cần phải tập trung được tìm thấy trong rau xà lách xoong, phô mai hoặc lòng đỏ trứng. Vitamin B1 giữ vai trò ưu thế cho sự tập trung chú ý. Theo một nghiên cứu khoa học, B1 nên uống vào bữa ăn sáng để giữ được sự tập trung suốt ngày. Vì thế trong bữa ăn sáng cần có thêm các loại bột ngũ cốc.

    Khoáng chất bồi bổ thần kinh
    Các khoáng chất cần thiết cho sự hoạt động của cơ thể, nhất là cho não bộ. Sắt bồi dưỡng cho trí nhớ và giúp trẻ em học hành tốt. Sắt thường có nhiều trong thịt. Iod giữ vai trò quan trọng trong việc nhận thức. Iod được tìm thấy trong tảo, cá, tôm cua, cả trong đậu nành và các sản phẩm từ sữa.
    Ngoài ra cần chú ý bổ sung vào bữa ăn lòng đỏ trứng chứa hàm lượng cao lécithine vừa giúp giải độc gan vừa tạo lập acétyl-choline là chất dẫn truyền luồng thần kinh quan trọng nhất. Bí đỏ vừa chế biến được nhiều món ăn ngon vừa cung cấp cho cơ thể một chất cần thiết cho hoạt động của não bộ, đó là acid glutamic tự nhiên (1%), giúp giải độc các cặn bã do hoạt động não bộ tiết ra hoặc củ sắn dây chứa isoflavon giúp tăng lưu lượng tuần hoàn não.

    Uống 1,5 lít nước mỗi ngày
    Cơ thể mất nước nhiều hay ít tùy thuộc vào hình thức hoạt động và nhiệt độ môi trường. Việc mất nước đến một mức nào đó sẽ làm giảm thể tích máu và giảm lượng nước nội bào. Và tế bào não rất nhạy cảm với sự mất nước. Nếu nước bị mất 2% so với trọng lượng cơ thể (tức khoảng 1,4 lít với người nặng 70 kg) sẽ làm giảm thể lực và ảnh hưởng đến các hoạt động trí tuệ, nhất là khả năng tập trung. Vì thế mỗi ngày cần phải uống 1,5 lít ngay cả khi không khát.

    Tỉnh táo nhờ trà, cà phê
    Để kích thích não, cà phê hoặc trà có tác dụng. Caffeine làm gia tăng hiệu năng nhận thức. Chất này làm tăng tốc khoảng 10 lần nhận định các thông tin đến cho não. Tuy nhiên, chỉ sử dụng cà phê vừa phải. Nên loại bỏ các chất kích thích có nguồn gốc từ rượu, là kẻ thù của trí nhớ.

    Vai trò quan trọng của bữa ăn sáng
    Bữa ăn sáng cung cấp khoảng 25-30% tổng năng lượng một ngày cho một người, vì vậy nếu thiếu bữa ăn sáng hoặc ăn qua loa, sức khỏe dễ bị suy giảm do nguồn năng lượng dự trữ trong cơ thể bị mất dần sau một đêm dài không ăn. Sức khỏe suy giảm thì năng suất học thi cũng giảm theo.
    Hiện nay các thực phẩm ăn nhanh có rất nhiều trên thị trường. Ăn sáng đầy đủ cũng là một biện pháp giữ gìn sức khỏe và tăng năng suất lao động chân tay lẫn trí óc.

    Ăn cá giúp chống lão hóa não
    Các nghiên cứu mới nhất đã cho thấy vai trò của việc ăn cá trong quá trình giúp chống lão hóa ở não và chống bệnh Alzheimer ở người trung niên.
    Kết quả cuộc nghiên cứu, tiến hành với hơn 1600 người tuổi từ 45 đến 70 và được đăng tải trên Tạp chí Thần kinh học, cho thấy những ai ăn nhiều cá, đặc biệt là các loại cá có mỡ, có thể giảm nguy cơ lão hóa não, tăng cường khả năng hoạt động về trí nhớ, nhờ vào loại axít béo omega-3 có nhiều trong các loại cá có mỡ.
    Nghiên cứu cũng cho thấy ai càng có nhiều cholesterol trong khẩu phần thì nguy cơ làm giảm độ nhanh nhạy của não càng tăng.